Cụ Bùi Bằng Đoàn-Từ vị quan thanh liêm trong triều đình phong kiến trở thành Trưởng Ban Thường trực Quốc hội

10/09/2019 17:55

Từ Thượng thư bộ Hình Nam triều nổi tiếng thanh liêm, chính trực, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tham gia chính quyền cách mạng  một cách tự nguyện và một lòng đi theo chính quyền cách mạng. Tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân của cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương sáng để chúng ta kính trọng và noi theo

Vị quan thanh liêm, chính trực

Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 19/9/1889 tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) trong một gia đình có truyền thống nho học. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo, từng làm Giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri Bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa (một tỉnh cũ dưới thời Pháp thuộc, hiện nay phần đất chủ yếu của Hưng Hóa, tỉnh Phú Thọ).

Mồ côi cha mẹ từ rất sớm, cả 6 anh em Bùi Bằng Đoàn được người chú dượng là Dương Lâm (tức cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc Kỳ) đưa về nuôi dưỡng và dạy học chữ Hán.

Con đường quan lộ của cụ Bùi Bằng Đoàn hanh thông. Năm 1907, thi vào trường Hậu Bổ (như trường Hành chính quốc gia) tại Hà Nội, năm 1911 tốt nghiệp. Cụ đã từng làm Tri phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Án sát tỉnh Bắc Ninh, Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình.

Khi làm quan, cụ nổi tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân. Trên công đường ở những nơi làm quan, cụ đều cho treo một bảng thông báo không nhận quà biếu. Với người nhà, cụ rất nghiêm khắc, cấm tiệt việc nhận quà, nếu lỡ nhận rồi thì phải mang trả lại.

Lúc làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định), cụ Bùi Bằng Đoàn đã đề xuất và thực hiện việc đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn, tạo lập được một vùng trồng lúa và trồng dâu rộng lớn. Ghi công đức của cụ, dân địa phương đã làm lễ tế sống vị phụ mẫu chi dân trẻ tuổi ngay nơi nhậm chức.

Cụ Bùi Bằng Đoàn (đứng bên phải) cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Năm 1925, trước việc báo chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã cử Bùi Bằng Đoàn vào Nam Bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp.

Cụ đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100 trang bằng tiếng Pháp nêu rõ những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền.

Những kiến nghị xác đáng của cụ đã được nhà đương cục chấp nhận, giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.

Năm 1925, mặc dù đang làm Tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) nhưng cụ vẫn được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội Châu.

Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, cụ Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức an trí ở Huế.

Đầu năm 1933, cụ được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các, cụ được bổ nhiệm làmThượng thư bộ Hình.

Trong mười hai năm ở kinh đô Huế, cụ trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và dịch ra chữ Hán.

Một lòng theo cách mạng

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ, cụ đã từ chối tham gia Chính phủ, cáo quan về quê. Tuy nhiên, Chính phủ Nam triều đã nhất quyết mời cụ ở lại để giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hà Nội.

Ở thời điểm “đêm trước” của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và mời cụ làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.

Ngày 2/9 /1945, cụ được mời tham gia dự lễ Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình. Tại buổi lễ đó, cụ Bùi Bằng Đoàn đã gặp Hồ Chủ tịch. Bác Hồ có nhã ý mời cụ Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền cách mạng – cụ đã kể lại việc này cho con cháu ngay sau đó. Tuy nhiên, theo lẽ thường, cụ “treo ấn, từ quan”, về an trí ở quê nhà Liên Bạt, Hà Tây.

Từ ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cụ Bùi Bằng Đoàn trở thành một công dân của một nước độc lập tự do. Với tài năng, đức độ của mình, cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đảm nhiệm nhiều công việc quan trọng của quốc gia.

Từ một vị quan thanh liêm, chính trực làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức rõ trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ rời quê hương, dấn thân vào con đường cách mạng, tham gia xây dựng chính quyền mới.

Trong phiên họp của Chính phủ ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị thành lập một Ban Cố vấn riêng cho Người gồm 10 vị, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.

Nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước được trong sạch, vững mạnh, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL thiết lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.

Ban này nhận đơn khiếu nại của nhân dân và có toàn quyền điều tra, kể cả việc xem xét các tài liệu của Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ nếu thấy cần thiết cho công tác giám sát. Ban có quyền đình chỉ chức vụ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm khuyết điểm, sai lầm.

Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78/SL thành lập Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết quốc gia trực thuộc Chính phủ, đặt dưới quyền điều khiển của Chủ tịch Chính phủ. Ủy ban gồm 40 vị là những trí thức, nhân sĩ, các bộ trưởng và thứ trưởng, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn. Việc thành lập Ủy ban này đã góp phần động viên và tạo cơ sở pháp lý để các trí thức, nhân sĩ yêu nước phát huy trí tuệ và tài năng của mình phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Ngày 6/01/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn ứng cử Đại biểu Quốc hội tại tỉnh Hà Đông và trúng cử, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cử cụ làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.

Ngày 2/3/1946, cụ được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội. Khối đoàn kết dân tộc được tiếp tục củng cố và mở rộng, nhiều đoàn thể mới được thành lập, đặc biệt là Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt). Một ban vận động thành lập Hội gồm 27 vị, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.

Ngày 29/5/1946, Hội chính thức tuyên bố thành lập ở Hà Nội. Trong 8 tháng hoạt động kể từ kỳ họp thứ nhất tháng 3/1946 đến kỳ họp thứ hai tháng 10 cùng năm, Ban Thường trực Hội Liên Việt đã nỗ lực hoạt động giữ vững nguyên tắc dân chủ, cùng Chính phủ đưa nước nhà vượt qua mọi khó khăn, giữ vững chính quyền cách mạng.

Ngày 8/1/1946, cụ được cử làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cho cụ Nguyễn Văn Tố.

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 18/12/1946, cơ quan Ban Thường trực Quốc hội phải sơ tán đến địa điểm mới, và chính ngôi nhà của cụ tại thôn Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Tây đã trở thành trụ sở làm việc của Ban một thời gian.

Năm 1947 và năm 1948, cụ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Ban Thường trực Quốc hội đã đóng góp nhiều ý kiến với Chính phủ.

Các phiên họp của Chính phủ đều có sự tham dự, góp ý của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn. Nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại quan trọng của đất nước, Chính phủ đều lắng nghe ý kiến của cụ.

Cụ Bùi Bằng Đoàn. Ảnh tư liệu

Tham gia chính quyền mới, cụ Bùi Bằng Đoàn toàn tâm toàn ý phụng sự nhân dân, phụng sự kháng chiến. Với cương vị là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ đã đầu tư nhiều vào việc xây dựng phương thức hoạt động của Quốc hội sao cho phù hợp với thực tế kháng chiến để đạt được hiệu quả cao.

 

Hiển Nguyễn


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 272
Đã truy cập: 1177852